Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Hổ trợ trực tuyến
Administrator
Đồng Hồ Trực Tuyến
Số Lượt Truy Cập
free html visitor counters
Đăng Nhập

Quên mật khẩu


Khinh hạm thuộc đồ án 1166.1

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Khinh hạm thuộc đồ án 1166.1

Bài gửi  ronamdo on Fri Jul 15, 2011 8:40 am

Trong những năm 1980, với mục đích phát triển dòng tàu hộ
tống (khinh hạm) mới phục vụ theo yêu cầu của hải quân Nga và xuất khẩu,
Viện Thiết kế Zelenodolsk (ZPKB) tại thành phố Zelenodolsk, nước CH
Tatarstan, Liên bang Xô viết, đã cho ra mắt khinh hạm đa nhiệm hạng nhẹ
mới thuộc đồ án 1166.1 và một vài biến thể của nó.

Các chiến hạm thuộc đồ án nói trên được đặt tên theo một loài mãnh
thú đồng cỏ là báo đốm châu Phi (Gepard). Trong biên chế hải quân Nga,
khinh hạm lớp Gepard sẽ thay thế cho các lớp tàu hộ tống cỡ nhỏ lớp Koni
Parchim và Grisha.

Được thiết kế theo phong cách hoàn toàn mới so với các chiến hạm cùng
lớp của hải quân Xô viết trước đó, khinh hạm lớp Gepard có tiêu chuẩn
tương đương với các tàu hộ tống hiện đại ở khả năng săn ngầm, hải chiến,
phòng không một cách tương đối. Thiết kế của lớp tàu chiến này được áp
dụng công nghệ “tàng hình” nhằm nâng cao khả năng tác chiến trên biển.
Toàn cảnh một chiến hạm lớp Gepard





Thiết kế

Khinh hạm lớp Gepard dài 102,2 m, rộng 13,1 m, mớn nước 3,8 m. Lượng
choán nước của lớp tàu này đạt gần 2.000 tấn khi trang bị đầy đủ vũ khí,
trang bị. Khinh hạm lớp Gepard có kết cấu 10 khoang kín tách biệt để
nâng cao khả năng sống sót trong trường hợp một vài khoang bị thủng hoặc
ngập nước.

Khả năng “tàng hình” của chiến hạm lớp Gepard nằm ở kết cấu thân tàu
được làm từ thép có độ từ tính thấp và hệ thống khung chịu lực của tàu
làm từ hợp kim nhôm- magiê không bị ăn mòn bởi nước biển. Cùng với đó,
hầu hết trang bị vũ khí được đặt ở các khoang kín phần phía sau của tàu
để giảm bề mặt phản xạ radar hiệu dụng ở mặt trước và hai bên.

Ngoài ra, lớp sơn phủ đặc biệt cũng có tác dụng hấp thụ tín hiệu radar
và giảm khả năng bị quan sát bởi các thiết bị quan sát hồng ngoại và
quang học của đối phương.

Hệ thống động lực

Nhờ hai động cơ gas-turbin M-88 có tổng công suất 10.000 mã lực và một
động cơ diesel 61D 8.000 mã lực theo dạng CODOG, khinh hạm lớp Gepard có
thể đạt tốc độ tối đa tới 26 hải lý/giờ và cự ly hoạt động tới 5.000
hải lý (với vận tốc 10 hải lý/giờ).

Với dự trữ hành trình trên biển trong 20 ngày đêm, khinh hạm lớp Gepard
rất phù hợp với các nhiệm vụ tuần tra lãnh hải, bảo vệ vùng biển đặc
quyền kinh tế trong các vùng biển kín, vịnh.

Hệ thống cảm biến và radar

Khinh hạm thuộc đồ án 1166.1 được trang bị radar hoa tiêu
Sigma/OC-11661, radar trinh sát-cảnh giới mặt nước Positive/Cross Dome
và radar dẫn đường Kivach.

Để điều khiển hệ thống vũ khí trên tàu, khinh hạm thuộc đồ án này sử
dụng các hệ thống radar khác như: radar MR-123/176 Vympel/ BASS TILT cho
tổ hợp hải pháo, radar dẫn bắn tên lửa đối hạm Harpoon-Ball/BAND STAND,
radar dẫn bắn tên lửa phòng không 2R33/POP GROUP.

Tổ hợp tên lửa phòng không tầm ngắn 4K33 Osa-MA2





Với nhiệm vụ săn ngầm, chiến hạm lớp Gepard trang bị hệ thống sonar thủy
âm tích hợp vào thân tàu MGK-335ME-03 và thiết bị sonar thủy âm rời kéo
dưới nước Zmey có thể hoạt động ở nhiều độ sâu khác nhau.

Khả năng đối kháng điện tử và gây nhiễu của chiến hạm lớp Gepard là hệ thống ASOR-11661 và mồi bẫy PK-10.

Hệ thống vũ khí

Sức mạnh tấn công chính của khinh hạm lớp Gepard là 8 đạn tên lửa đối
hạm cận âm Kh-35 Uran 3M24UD (tên NATO - SS-N-25 Switchblade) có tầm bắn
250 km. Đây là dòng tên lửa có độ chính xác cao tương đương như dòng
tên lửa AGM-84 Harpoon của hải quân Mỹ.
Tên lửa đối hạm cận âm Kh-35 Uran



Tên lửa Uran sử dụng phương thức dẫn đường bán chủ động pha đầu, pha
giữa dẫn đường quán tính và sử dụng radar chủ động tự thân tìm kiếm và
tấn công mục tiêu ở pha cuối. Tốc độ của dòng tên lửa này đạt Mach (tốc
độ âm thanh) 0,9 và khả năng bay sát mặt biển ở pha cuối để giảm khả
năng bị đánh chặn. Tên lửa Uran có khả năng tiêu diệt và vô hiệu hóa các
chiến hạm có lượng choán nước tới 5.000 tấn với đầu nổ lõm phá mảnh
nặng 145 kg.

Trang bị hải pháo trên khinh hạm lớp Gepard là pháo bắn nhanh AK-176 76
mm có tốc độ bắn khoảng 60-120 viên/phút để tiêu diệt các mục tiêu trên
mặt nước và trên không. Tầm “hỏa lực” của loại vũ khí này đạt 15 km.


Hải pháo AK-176





Khả năng tác chiến phòng không của lớp tàu chiến này là 2 tổ hợp pháo
phòng không bắn nhanh (CIWS) AK-630M tầm bắn đạt 5 km với 2.000 viên đạn
và tổ hợp tên lửa phòng không tầm ngắn 4K33 Osa-MA2 (SA-N-4) có tầm bắn
từ 200-15.000 m, tầm cao 10-12.000 m với 20 đạn tên lửa 9M33M3. Các tổ
hợp phòng không nói trên tạo ra lớp phòng thủ cứng bảo vệ khinh hạm lớp
Gepard trước các mục tiêu bay và xuồng cao tốc của đối phương, trong đó
gồm cả tên lửa đối hạm.
Pháo CIWS AK-630M





Để phục vụ tác chiến săn ngầm, khinh hạm lớp Gepard được 2 tổ hợp ống
phóng lôi cỡ 533 mm trang bị nhiều loại đạn ngư lôi khác nhau, trong đó
có ngư lôi siêu khoang VA-111 Shkval.


Ngư lôi siêu khoang Shkval
Đây là dòng ngư lôi tên lửa sử dụng công nghệ siêu bọt khí của Nga với
khả năng đạt tốc độ tới 200 hải lý/giờ. Phiên bản phổ thông của ngư lôi
Shkval được trang bị đầu nổ nặng 210 kg đảm bảo khả năng tiêu diệt các
chiến hạm cỡ lớn của đối phương với chỉ một đạn ngư lôi.

Khả năng phòng thủ và săn ngầm của khinh hạm lớp Gepard còn được củng cố
nhờ một tổ hợp rocket chống ngầm, ngư lôi RBU-6000AS (con số 6.000
tương đương với tầm bắn tối đa của tổ hợp này đạt 6 km) với 12 ống
phóng.



Rocket chống ngầm RBU-6000AS



Ngoài ra, khinh hạm lớp Gepard còn có thể mang theo 12-20 thủy lôi tùy theo nhiệm vụ tác chiến.

ronamdo

Tổng số bài gửi : 145
Points : 456
Thanks for Topic : 11
Join date : 30/11/2010

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết